Trong chiến tranh Việt Nam, lực lượng tên lửa phòng không Việt Nam đã có nhiều sáng tạo chiến, kỹ thuật chống các thiết bị gây nhiễu radar của Mỹ.
Mỹ “bắt thóp” được hệ thống S-75 như thế nào?
Kể từ mùa hè năm 1965, các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 "Dvina" của Liên Xô tiên tiến nhất tại thời điểm đó đã trở thành một lá chắn đáng tin cậy của bầu trời Việt Nam. Đế quốc Mỹ đã phải hứng chịu thiệt hại trong mỗi cuộc không kích vì tổ hợp tên lửa phòng không này.
Choáng váng trước thất bại nặng nề, người Mỹ vội vã đẩy mạnh việc nghiên cứu, đối phó với tên lửa S-75 Dvina. Và điều tồi tệ nhất là, là trong khi S-75 đại thắng ở Việt Nam, thì chúng lại thất bại thê thảm ở Trung Đông và mở đầu cho những khó khăn của Việt Nam.
Theo ông Alexander Suchilov - người đứng đầu nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam vào cuối những năm 60 và các chuyên gia quân sự Việt Nam, vấn đề là ở chỗ Mỹ đã thu được hầu như trọn vẹn tổ hợp tên lửa S-75 của Liên Xô và mổ xẻ, phân tích các yếu tố kỹ thuật của nó.
Chúng ta cùng quay về bối cảnh của cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel vào mùa hè năm 1967. Lúc bấy giờ, Israel bị bao vây ngặt nghèo, cùng lúc phải chống lại liên quân 6 nước có tiềm lực quân sự mạnh là Ai Cập, Syria, Jordan, Libya, Iraq và Arab Saudi.
Khi đó, Liên Xô đã viện trợ cho Ai Cập rất nhiều tổ hợp tên lửa phòng không tiên tiến S-75 Dvina. Ngoài ra, Moscow cũng đã viện trợ các tổ hợp phòng không này cho cả Syria, khiến khả năng phòng không của 2 nước này rất mạnh so với Israel.
Ngoài ra, Ai Cập cũng được trang bị tới hơn 450 máy bay chiến đấu của Liên Xô, trong đó có loại tiêm kích đánh chặn hiện đại nhất là MiG-21, cùng với 30 máy bay ném bom tầm trung Tu-16 "Badger", có khả năng đánh phá nghiêm trọng các trung tâm dân sự và quân sự của Israel.
Đối đầu với các quốc gia có lực lượng máy bay chiến đấu gấp hàng chục lần mình, không quân Israel (IAF) đã quyết định sẽ sử dụng đòn tấn công phủ đầu từ trên không, nhằm tiêu diệt hoàn toàn lực lượng không quân của các đối thủ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến trên bộ.
Tên lửa S-75 Dvina Việt Nam là loại tên lửa bắn rơi nhiều máy bay nhất thế giới
|
7 giờ 45 phút sáng ngày 5-6-1967, gần 200 máy bay phản lực chiến đấu Isarel ồ ạt cất cánh tấn công phủ đầu Ai Cập, bắt đầu chiến dịch tập kích đường không Focus (Moked), cũng là sự mở màn cuộc chiến tranh 6 ngày (từ 5-6 đến 10-6 năm 1967) giữa nước này và thế giới Ả Rập.
Không quân Isarel bay thấp để tránh tầm bắn của tên lửa S-75, đồng loạt tiến công phá hủy các sân bay, đài radar, trận địa phòng không của đối phương. Hơn 300 máy bay chiến đấu hiện đại của Ai Cập bị phá hủy, hơn 100 phi công nước này thiệt mạng. Nhiều đài radar và trận địa phòng không bị xóa sổ hoàn toàn.
Sau đó, các lữ đoàn thiết giáp và bộ binh cơ giới Isarel đồng loạt xuất kích, tạt sườn chia cắt đội hình quân Ai Cập. Quá hoảng sợ, quân đội nước này vội vã rút chạy, bỏ lại rất nhiều vũ khí. Sự yếu kém của quân đội nước này đã ảnh hưởng tới quân đội Việt Nam, cách họ tới nửa vòng trái đất.
Israel đã bắt giữ được 20 bộ khí tài của hệ thống tên lửa S-75 Dvina, cùng loại với thiết bị quân sự được sử dụng ở Việt Nam, bị quân đội Ai Cập vứt bỏ lại ở sa mạc Sinai.
Mỹ tìm ra cách khắc chế và tiêu diệt S-75 Dvina
Các chuyên gia Mỹ đã nhanh chóng “mổ xẻ”, nghiên cứu khí tài tên lửa này, đưa ra các biện pháp đối phó và tìm ra cách phá hoại hệ thống dẫn hướng của chúng. Các chuyên gia Mỹ bắt đầu sử dụng các máy phát nhiễu công suất lớn, chế áp toàn bộ dải sóng làm việc của S-75 Dvina.
Ngoài ra, người Mỹ bắt đầu sử dụng tên lửa chống radar điều khiển (còn gọi là tên lửa chống bức xạ) AGM-45 Shrike. Loại tên lửa này hoạt động theo cơ chế tấn công nguồn bức xạ radar chủ động trên mặt đất, phá hủy các đài radar của tổ hợp tên lửa phòng không S-75 Dvina.
Do đó, vào cuối năm 1967 đã xảy ra điều bất ngờ đối với các chuyên gia Liên Xô và chiến sĩ tên lửa Việt Nam: Các máy bay Mỹ trở thành hầu như "miễn dịch" đối với tên lửa S-75. Hơn nữa, tên lửa từ máy bay Mỹ bắt đầu đánh trúng các tổ hợp tên lửa của ta trên mặt đất.
Ví dụ như vào ngày 15-12-1967, không quân Mỹ tung 44 lượt máy bay cường kích đánh phá cầu Đuống, phòng không Việt Nam đã phóng liên tiếp 8 đạn tên lửa S-75 nhưng đều bị mất điều khiển, do bị đối phương dùng máy gây nhiễu ALQ-71, gây nhiễu rãnh đạn.
Từ đây đã bắt đầu cuộc đấu trí quyết liệt giữa các chiến sĩ tên lửa Việt Nam với không lực Mỹ. Trong tình thế vô cùng khó khăn, khi khí tài của ta đã bị đối phương nắm rõ như lòng bàn tay, bộ đội tên lửa Việt Nam chỉ còn vũ khí duy nhất là sự thông minh.
Bằng các biện pháp thu sóng, kết hợp chụp ảnh, phía ta đã phát hiện được dải tần số và cường độ của loại nhiễu này, sau đó tiến hành “át nhiễu”, nâng công suất sóng điều khiển và sóng trả lời của đạn lên gấp ba lần, vượt qua mọi loại máy gây nhiễu của Mỹ như ALQ-71, ALQ-101, ALQ-107.
Ngoài các biện pháp “phản chế áp”, lực lượng phòng không Việt Nam đã áp dụng những biện pháp chiến thuật linh hoạt đối với các phương tiện kỹ thuật, ngày càng hoàn thiện cách đánh cho các tổ hợp tên lửa, đập tan chiến thuật và kỹ thuật chế áp mới của Mỹ.
Khi máy bay Mỹ phóng Shrike theo chùm radar từ mặt đất, các nhân viên kỹ thuật radar ngay lập tức làm cho tín hiệu radar đổi hướng và tắt trạm hướng dẫn. Mất tín hiệu từ búp sóng radar, loại tên lửa chống bức xạ này bay chệch hướng ngay sau khi phóng từ máy bay.
Các chuyên gia kỹ thuật Xô-Việt cũng đã sử dụng phương pháp đánh lừa địch, mở máy phát tín hiệu điều khiển tên lửa mà không phóng quả tên lửa. Sau khi được thông báo có tín hiệu SAM, phi công Mỹ ngay lập tức bắt đầu thực hiện các động thái chống tên lửa hoặc ném bom bừa, do đó hiệu quả của các vụ ném bom vào các mục tiêu đã giảm đáng kể.
Với sự sáng tạo của các chuyên gia quân sự và nhân viên kỹ thuật Việt Nam-Liên Xô, các tên lửa S-75 Dvina chỉ bị Mỹ “làm mù" trong thời gian rất ngắn. Hiệu quả của các cuộc tấn công tên lửa vào máy bay địch cũng đã được cải thiện một cách rõ rệt.
Máy bay chiến đấu F-16B của Mỹ phóng tên lửa AGM-45 Shrike
|
Nếu vào cuối năm 1967 các tổ hợp tên lửa bị gây nhiễu nặng và phải sử dụng tới 9-10 quả đạn để bắn hạ một máy bay Mỹ, thì kể từ đầu năm 1968 đã chỉ 4-5 quả đạn đã diệt được một máy bay địch. Lầu Năm Góc lại tiếp tục đau đầu tìm cách “trị” loại tên lửa sát thủ trong tay phòng không Việt Nam.
Việt Nam tiếp tục trở thành “người bị hại” bởi Ai Cập
Sau thất bại nặng nề trong Chiến tranh 6 ngày, Ai Cập ráo riết hiện đại hóa quân đội để phục thù. Họ tiếp tục nhận được sự hậu thuẫn của Liên Xô, Moscow tiếp tục cung cấp những những khí tài hiện đại nhất cho Cairo, trong đó có các hệ thống radar cảnh giới P-12 Spoon Rest.
Tuy nhiên, sau những thất bại liên tiếp trước Israel, Ai Cập vẫn tiếp tục mơ hồ, mất cảnh giác trước đối thủ rất mạnh mà tinh quái, các trận địa radar của họ hầu như không có hỏa lực phòng không và lực lượng bảo vệ, đặc biệt là các trận địa radar tầm thấp dọc giới tuyến bản đảo Sinai.
2h đêm ngày 26-12-1969, phía Isarel mở chiến dịch Rooster-53 (Gà trống-53), dùng máy bay trực thăng và lính đặc nhiệm tập kích đánh cướp trạm radar Ras Ghareb gần kênh đào Suez, cẩu toàn bộ 7 tấn trang bị khí tài của tổ hợp radar P-12 mang về nghiên cứu.
Radar cảnh giới P-12 Spoon Rest là nhân tố quan trọng của tổ hợp tên lửa S-75 Dvina, có tầm trinh sát mục tiêu lên đến 275km, sử dụng dải sóng VHF với 4 tần số phát, kháng nhiễu tương đối tốt. Đây là khí tài radar hiện đại nhất thế giới lúc đó, nhưng nó được Ai Cập bảo vệ hết sức “Amateur”.
Phía Israel đã điều động một đội đặc nhiệm và 2 chiếc trực thăng Sikorky CH-53, mệnh danh "Sea Stallion" (Hải Mã) tập kích dễ dàng trạm radar P-12 này và ung dung tháo rời chúng cho 2 chiếc trực thăng CH-53 cẩu treo các bộ phận của hệ thống radar về Israel.
Chiếc CH-53 thứ nhất không gặp khó khăn gì khi đảm nhận nhiệm vụ cẩu xe thông tin và giàn anten có kích thước khổng lồ nhưng không nặng lắm trở về Israel, sau đó quay lại hỗ trợ chiếc thứ 2.
Chiếc thứ 2 cầu phần đài chỉ huy nặng tới 4,3 tấn, trong khi thiết kế của móc cẩu ngoài chỉ nâng tối đa 3 tấn nên bị đứt dây cáp và hỏng hệ thống thủy lực do phải cẩu khối lượng quá tải. Cơ trưởng N. Dagan lão luyện đã cố gắng bay cực thấp, lê lết về đến lãnh thổ Israel mới hạ cánh khẩn cấp.
Một đài radar P-12 hoàn chỉnh đã được “biếu không” cho các chuyên gia kỹ thuật có trình độ hàng đầu thế giới của Israel và Mỹ. Các chuyên gia của họ tháo gỡ đến từng con ốc để phân tích các số liệu, giải mã tính năng của loại radar khi đó đang gây khiếp sợ cho Mỹ.
Năm lần bảy lượt, bộ đội phòng không Việt Nam trở thành “người bị hại” trong tay Ai Cập. Tính đến năm 1970, toàn bộ các khí tài radar chủ yếu của chúng ta đã bị Mỹ tìm hiểu đến từng chân tơ kẽ tóc, và đưa ra các biện pháp đối phó hiệu quả.
Việt Nam nếm trải hậu quả oan nghiệt do Ai Cập để lại, khi Mỹ bắt đầu cuộc Chiến tranh phá hoại lần thứ 2. Ngày 10-4-1972, B-52 ném bom rải thảm thành phố Vinh, nhưng hai ngày sau, Quân chủng Phòng không-Không quân mới nắm được thông tin về vụ không kích này.
Ngày 13-4-1972, máy bay ném bom chiến lược B-52 Mỹ đánh ra Thanh Hóa, hủy diệt hoàn toàn sân bay Sao Vàng, nhưng hai tiểu đoàn tên lửa S-75 Dvina ở Thanh Hóa đều không thể phóng đạn, vì nhiễu rất nặng.
Đặc biệt, ngày 16-4-1972, Mỹ lại cho “Pháo đài bay” B-52 đánh vào thành phố Hải Phòng, hai trung đoàn tên lửa phòng không 238 và 285 của ta đã phóng tới 93 quả tên lửa nhưng không diệt nổi chiếc máy bay nào.
Việt Nam sáng tạo kỹ thuật trong đánh B-52 như thế nào?
Trước những thất bại liên tiếp, Quân chủng Phòng không-Không quân đã lập tức nghiêm túc kiểm điểm, tìm hiểu nguyên nhân và nhanh chóng đề ra các biện pháp kỹ thuật mới, trên cơ sở sử dụng các trang bị khí tài cũ, tìm ra cách đánh mới.
S-75 Việt Nam đã thắng Mỹ nhờ chúng ta đã có những tìm tòi, sáng tạo chiến, kỹ thuật hợp lý
|
Trong đó, phải kể đến việc tìm ra một khí tài thay thế để chỉ thị mục tiêu cho tên lửa đánh địch. Đây có thể coi là một “phát kiến vĩ đại” từ trong những điều đơn giản, một sự sáng tạo chỉ có ở Việt Nam, đó là sử dụng radar K8-60 của pháo cao xạ 57mm để chỉ thị mục tiêu cho tên lửa S-75 đánh B-52.
Radar K8-60 vốn có hai dải sóng 3cm và 10cm, nhưng dải sóng 3cm bị trục trặc không thể sử dụng được, nên trước đó phía ta chỉ đánh địch bằng dải sóng 10cm, giống như dải sóng của đài radar SON-9A của Liên Xô. Do đó, phía Mỹ chỉ tập trung gây nhiễu nặng dải sóng 10cm.
Điều thần kỳ đã xảy ra khi các kĩ sư quân sự Việt Nam “mổ xẻ” đài radar K8-60, quyết tâm sửa chữa dải sóng 3cm. Họ đã tìm ra rằng khi thiết kế đài radar K8-60, phía Trung Quốc đã phạm lỗi lớn ở đèn điện tử CKM-99, một bộ phận tối quan trọng, được coi như trái tim của đài phát.
Các chuyên gia kỹ thuật Việt Nam đã đặt lại chế độ làm việc cho đèn điện tử CKM-99, phục hồi thành công dải sóng 3cm. Đây chính là “vũ khí bí hiểm” của tên lửa S-75 Dvina, được giữ bí mật cho đến ngày mở màn Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972.
Tất nhiên là việc lực lượng phòng không với tên lửa S-75 Dvina (SAM-2) bắn rơi tới 27/34 chiếc máy bay ném bom chiến lược B-52 (2 chiếc do MiG-21 và 5 chiếc do pháo cao xạ 100mm) còn có sự đóng góp của rất nhiều lực lượng khác và nhiều biện pháp kỹ, chiến thuật khác, ví dụ như “Phương pháp phóng 3 điểm”, nhưng việc cải tiến và tìm tòi thiết bị và phương án sử dụng chúng để đánh địch đóng vai trò quyết định.
Nếu không có những sáng tạo này, một là SAM-2 Việt Nam đã bị Mỹ tiêu diệt ngay từ khi mới mở máy, hai là không thể phát hiện ra địch mà đón bắn; ba là không thể điều khiển phóng đạn tên lửa, dẫn tới cả hệ thống tên lửa trở thành vô dụng, gây suy yếu trầm trọng toàn bộ hệ thống phòng không.
Huy Bình - ĐVO

Đăng nhận xét