Articles by "Theo Dòng Lịch Sử"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Theo Dòng Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Sau sự kiện Gạc Ma 14/3/1988, trước âm mưu Trung Quốc tiếp tục mở rộng chiếm đóng thêm các đảo, đá ở Trường Sa, lực lượng tên lửa bờ của Việt Nam đã...


Đầu năm 1988 Tiểu đoàn tên lửa bờ 679 của Hải quân Việt Nam nhận được lệnh: "Sẵn sàng cơ động chi viện Trường Sa" hành quân thực hiện chiến dịch CQ88.

Núi Nùng – sông Tô, những địa danh nổi tiếng của kinh thành Thăng Long, nơi được tôn là “Nùng sơn chính khí”, “Tô Lịch giang thần”. Tuy nhiên “núi Nùng” nằm ở vùng đất nào trên kinh thành là vấn đề có những cách lý giải khác nhau.
 Ẩn số về núi Nùng huyền thoại của kinh thành Thăng Long
Rồng đá điện Kính Thiên.
Hẳn rất nhiều người đã nghe đến địa danh “núi Nùng”, vốn được nhắc nhiều trong các áng thơ văn cổ  nhưng không phải ai cũng biết rõ về ngọn núi này. Nhiều người cho rằng “núi Nùng” chính là gò đất cao trong Công viên Bách Thảo; người lại cho rằng núi Nùng là núi Voi trên đường Hoàng Hoa Thám… Và xung quanh câu chuyện này, kiến giải núi Nùng là nền điện Kính Thiên được nhiều người đồng tình qua những cứ liệu lịch sử.

Các hành động xâm nhập biên giới đã được phía Trung Quốc tiến hành một cách có hệ thống ngay từ năm 1974. Năm 1975, đã có tới 294 lần các nhóm vũ trang Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ Việt Nam.
Các thông tin dưới đây được trích dịch từ quyển hồi ký “Đông Dương, đống tro tàn của bốn cuộc chiến tranh” của phóng viên chiến trường Liên Xô M.Ilinski - người đã trực tiếp có mặt tại chiến trường biên giới phía Bắc suốt thời gian chiến sự. Ấn phẩm do nhà xuất bản “Veche” ở Moskva ấn hành năm 2000, thuộc seri sách “Những bí mật quân sự thế kỷ XX”.

Chỉ ở VN mới dùng trực thăng Mi-6 cẩu tiêm kích MiG-17, MiG-21 trong không chiến. Chính những phi công Mi-6 tài hoa, quả cảm ấy đã làm rạng rỡ dòng máy bay khổng lồ của Liên Xô.

Nổi bật giữa sân Bảo tàng Phòng không - Không quân ở Hà Nội là một máy bay trực thăng Mi-6 to đùng, của Không quân Việt Nam. Năm cánh quay của nó trĩu xuống khiêm nhường. Những phi công ngày ấy lái nó, có người đã đi xa.
Phi công trực thăng Mi-6 VN: Sai một ly là "đi" tiêm kích

Truyền thống thạo nghề sông nước trong lòng một dân tộc kiên cường bất khuất, có giá trị sáng tạo liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh giành và giữ độc lập dân tộc được phát triển thành truyền thống thạo thủy chiến và liên tục được các thế hệ sau kế thừa, phát triển.
 Truyền thống thạo thủy chiến của dân tộc Việt Nam

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhấn mạnh: "Do nước ta có vị trí quan trọng, có bờ biển dài, nhiều sông lớn, nên từ xưa tới nay kẻ địch từ bên ngoài thường lợi dụng biển và sông để xâm lược nước ta. Và ở trên biển, trên sông, trong quá trình lịch sử, dân tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống chống ngoại xâm anh hùng, bất khuất. Thật vậy, trong những trang sử vẻ vang của mình kể từ khi Vua Hùng dựng nước, dân tộc ta đã ghi biết bao sự tích anh hùng trên non sông nước ta nói chung, trên sông, biển nước ta nói riêng”.
Truyền thống thạo thủy chiến của dân tộc ta được hình thành và phát triển như là một tất yếu lịch sử. Tổ tiên ta thường sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mưa nhiều, độ ẩm cao, sông ngòi chằng chịt, đầm hồ dày đặc, lắm đồi nhiều núi, lại có biển lớn bao bọc. Do vậy, nếp ăn, ở, đi lại, sinh hoạt... bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với sông nước. Những đội quân quen nghề sông nước và cơ động chủ yếu bằng thuyền đã ra đời một cách tự nhiên bên cạnh những đội quân bộ - hai bộ phận chủ yếu trong lực lượng vũ trang truyền thống của dân tộc ta. Đặc biệt, nghệ thuật "đặc công nước” đã xuất hiện từ sớm dưới dạng những người lính thủy giỏi nghề bơi lặn, dùng dùi sắt nhọn đục thuyền đối phương, hoặc dùng thuyền đặc chủng bí mật bất ngờ đánh hỏa công. Trong một tờ khải tâu lên Vua Tống góp bàn về việc tiến binh đánh nước ta, Triệu Bổ Chi đã viết: "Vả lại người Giao Chỉ giỏi thủy chiến. Từ xưa truyền lại rằng người Việt lội xuống nước đội thuyền địch để lật úp. Đỗ Mục nói chúng có kẻ đi chìm dưới đáy biển 50 dặm mà không thở. Vả nay, thuyền buôn thường gặp giặc biển, bị chúng lặn dưới nước đục thuyền”. Một trong những người nổi tiếng trong lịch sử nước ta về nghệ thuật "đặc công nước” mà chúng ta đều biết đó là Yết Kiêu - gia nô trung thành và cận vệ đắc lực cho Trần Hưng Đạo. Ông đã cùng đồng đội dùi đắm nhiều thuyền của quân Nguyên và dùng mưu trí tự giải thoát khỏi sự bắt giữ của chúng.
Do đặc điểm địa hình phức tạp và truyền thống cư trú cũng như truyền thống giao thông của nước ta nên kẻ thù xâm lược nước ta, ở xa cũng như ở gần, thường cơ động bằng đường thủy, vừa nhanh chóng lại tiết kiệm được sức lực. Triệu Đà đánh nước Âu Lạc có Nhâm Ngao mang thuyền đậu ở Tiểu Giang. Năm 42, Mã Viện mang quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng có Đoàn Chí mang 2.000 thuyền đi theo. Trần Bá Tiên của nhà Lương mang quân đi đánh nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế cũng đi theo đường thủy. Năm 938, Hoằng Thao con Vua Nam Hán, cũng dùng một đạo quân thủy mò vào cửa Bạch Đằng. Năm 981, tướng Tống đánh Lê Hoàn cũng cử Lưu Trừng mang theo một đạo quân thủy. Năm 1077, nhà Tống lần nữa cử bọn Quách Quỳ mang hàng chục vạn quân xâm lược nước ta vẫn không quên kèm theo 200 chiến thuyền của Dương Tùng Tiên. Thế kỷ XIII, trong ba quân Mông - Nguyên sang xâm lược nước ta thì, chỉ trừ một lần đầu tiên từ Vân Nam xuống là không theo đường thủy, còn cả hai lần sau (1285, 1288) đều quan tâm xây dựng đội quân thủy đi kèm, với mức độ quân thủy ngày càng được chú trọng hơn. (Đáng chú ý, thuyền chiến của Đoàn Chí, của Trần Bá Tiên, của Hoằng Thao, của Lưu Trừng, của Dương Tùng Tiên và của Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đánh quân Trần, tất cả đều hướng theo đường sông Bạch Đằng). Năm 1784, Nguyễn Ánh cầu cứu quân Xiêm, thì lực lượng chính mà Xiêm giúp Nguyễn Ánh là 200 chiến thuyền với 30.000 quân thủy. Năm 1789, trong kế hoạch xâm lược nước ta, nhà Thanh chủ trương dùng một mũi quân thủy đánh vòng xuống Phú Xuân, cùng quân bộ của Tôn Sĩ Nghị ép quân Tây Sơn vào giữa. Vì kiêu căng, khinh địch, Tôn Sĩ Nghị đã không dùng mũi quân thủy này… Những tên xâm lược mới từ phương Tây (Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ) sang xâm lược Việt Nam trong hai thế kỷ vừa qua cũng không đứng ngoài quy luật đó.
 

Vì kẻ thù thường sử dụng quân thủy để xâm lược nước ta, cho nên chiến trường sông biển và nghề sông nước lại càng có vị trí quan trọng đặc biệt. Tình hình đó làm cho bộ mặt chiến tranh ở nước ta thường rất đậm màu sắc thủy chiến. Quân thủy đã tham gia tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử dân tộc và đã đem lại nhiều chiến công hiển hách. Ngay từ buổi đầu dựng nước, quân thủy Việt Nam đã là quân thủy giữ nước, quân thủy bảo vệ đất nước. Thời Hùng Vương có truyền thuyết về chống giặc Quỳnh Châu từ phía Bắc và diệt Hồ Tôn từ phía Nam. Quân thủy Âu Lạc ở thành Cổ Loa đã đẩy lùi bao cuộc tiến công quân sự của Triệu Đà (Kết cấu thành Cổ Loa mang những nét rất điển hình của một căn cứ quân thủy). Quân thủy của Hai Bà Trưng do nữ tướng Lê Chân chỉ huy làm khốn đốn Mã Viện ở cửa Bạch Đằng. Quân thủy do Lý Bí chỉ huy anh dũng chặn Trần Bá Tiên trên sông Tô Lịch, hồ Điển Triệt. Quân thủy của Triệu Quang Phục ở đầm Dạ Trạch khiến quân Lương mất ngủ lao đao. Quân thủy do Mai Phúc Loan chỉ huy làm quân Đường vất vả lo âu. Quân thủy của Bố Cái Đại Vương trong trận vây thành Đại La bức chết Cao Chính Bình. Các tướng Khúc Thừa Dụ ở Hồng Châu, Dương Đình Nghệ ở Ái Châu đều huy động và tuyển mộ những dân chài ven sông - biển lập nên những đạo quân thủy thông thạo thuyền bè và chiến đấu trên sông nước.
Quân thủy của Ngô Quyền kết hợp với bãi cọc gỗ cắm ở sông Bạch Đằng đánh tan đoàn chiến thuyền hùng mạnh của quân xâm lược Nam Hán (năm 938), chấm dứt ách đô hộ gần một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, mở đầu thời kỳ độc lập lâu dài của dân tộc ta. Quân thủy do Lê Hoàn chỉ huy lập nên trận thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng lần thứ hai, tiêu diệt hoàn toàn đạo quân xâm lược Tống.
Thời Lý, thế kỷ thứ XI, vấn đề xây dựng căn cứ, chốt quân thủy phòng thủ đường biển chính thức được đặt ra, trong đó căn cứ Vân Đồn giữ vai trò quan trọng bảo vệ đất nước trên hướng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Quân thủy của Lý Thường Kiệt náo động các châu Khâm, Liêm, chặn thuyền Tống từ ngoài hải giới, cùng quân bộ chặn đứng Quách Quỳ trước sông Cầu, đánh thắng quân thủy Chiêm Thành ở cửa Nhật Lệ năm 1069 và hàng chục trận thắng quân thủy nhà Tống ở vùng biển Quảng Ninh.
Cơ động bằng thuyền, triệt để khai thác địa bàn sông biển trong bố trí lực lượng và thủ đoạn tác chiến đường thủy vẫn là phương châm chiến lược của quân đội nhà Trần. Nhà Trần đã mở rộng đơn vị hành chính Vân Đồn so với thời Lý và đặt ở đây một quân độc lập – quân Bình Hải – có nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ vùng biển đông bắc làm cơ sở quyền lực cho việc thu mối lợi ngoại thương ở đây, biến trang Vân Đồn thành một căn cứ phòng thủ đường biển thực thụ đầu tiên ở nước ta. Quân thủy của Trần Quốc Tuấn quét sạch quân Mông ở Đông Bộ Đầu, diệt quân Nguyên ở Chương Dương, Hàm Tử, Vân Đồn, Vạn Kiếp… Đặc biệt là trong cuộc kháng chiến lần thứ ba (năm 1288), dưới sự chỉ huy thiên tài của Trần Quốc Tuấn, quân và dân ta làm nên chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3, tiêu diệt toàn bộ đạo quân thủy 6 vạn tên, bắt các tướng Ô Mã Phi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ, buộc Thoát Hoan phải rút quân về nước. Những nhân vật tài giỏi về hoạt động trên sông biển như Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái… đã lập công xuất sắc, làm rạng rỡ nghệ thuật đánh giặc trên sông biển thời Trần.
Quân thủy của chúa Trịnh và chúa Nguyễn (thời kỳ Đàng Trong và Đàng Ngoài) đã chiến thắng các hạm đội xâm lược của chủ nghĩa tư bản châu Âu (đánh thắng hạm đội của thực dân Tây Ban Nha năm 1595, hai lần đánh thắng hạm đội của thực dân Hà Lan các năm 1642, 1643 và đánh thắng hạm đội của thực dân Anh năm 1702). Sang thế kỷ XVIII, nghệ thuật chiến đấu trên sông biển Việt Nam đã phát triển tới một trình độ khá cao.
Do tài thao lược của người "anh hùng áo vải” Quang Trung - Nguyễn Huệ, một lực lượng quân thủy hùng hậu đã được xây dựng với hàng nghìn chiến thuyền các loại được trang bị hỏa pháo, chở theo cả voi chiến. Quân thủy Tây Sơn nhiều lần vượt biển vào Nam, ra Bắc đánh đổ hai tập đoàn phong kiến Trịnh (Đàng Ngoài), Nguyễn (Đàng Trong) bằng các trận Lỗ Giang, Thúy Ái, chấm dứt cảnh đất nước bị chia cắt hơn 200 năm. Đặc biệt, năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy quân thủy tiến công đánh thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút đại phá quân Xiêm. Đây là một trong những trận đánh trên chiến trường sông - biển tiêu biểu của dân tộc ta. Đến giữa thế kỷ XIX, quân thủy của Nguyễn Trung Trực đã nhiều lần đánh vào lực lượng hải quân Pháp, gây cho chúng những thiệt hại đáng kể, mà nổi tiếng nhất là trận đốt cháy chiến hạm Êxpêrăngxơ (Hy vọng) trên sông Nhật Tảo (1861).
Thực tế lịch sử đã tỏ rõ: Kẻ thù dùng quân thủy, đi bằng đường thủy và nhân dân ta cũng sử dụng chiến trường sông biển và quân thủy để đánh địch trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược là một quy luật của chiến tranh giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam. Thắng địch trên chiến trường sông nước là một trong những quy luật giành thắng lợi của nghệ thuật quân sự trong lịch sử nước ta.
Theo ĐẠI ĐOÀN KẾT

Thủ lĩnh đế chế Mông Cổ bao la Thành Cát Tư Hãn vô cùng tàn bạo với đối thủ chống đối nhưng lại khoan dung với tôn giáo và rất trọng người tài.

Từ năm 1206 đến khi chết vào năm 1227, thủ lĩnh Mông Cổ Thành Cát Tư Hãn đã chinh phục gần 31 triệu km vuông lãnh thổ - nhiều hơn bất cứ cá nhân nào trong lịch sử. Trên hành trình chinh phục của mình, ông ta đã xẻ một đường tàn bạo xuyên qua châu Á và châu Âu, với hậu quả là hàng chục triệu người chết. Mặt khác ông cũng hiện đại hóa văn hóa Mông Cổ, bảo đảm tự do tôn giáo và giúp mở ra mối giao lưu giữa phương Đông và phương Tây.
Dưới đây là 10 thông tin đáng chú ý về thủ lĩnh vĩ đại tầm thế giới này – nhân vật hội tụ đồng thời cả tài năng quân sự, bản lĩnh chính khách và sự khủng bố đẫm máu:
1. Thành Cát không phải là tên thật
Người đàn ông sau này trở thành “Đại Hãn” của dân tộc Mông Cổ được sinh ra bên bờ sông Onon vào khoảng năm 1162. Ban đầu ông được đặt tên là Thiết Mộc Chân (Temujin), có nghĩa là “sắt thép” hoặc “thợ rèn”.
Mãi đến năm 1206 ông mới mang cái tên khủng khiếp Thành Cát Tư Hãn. Khi đó ông được phong làm lãnh đạo của người Mông Cổ tại một cuộc họp bộ lạc có tên là “kurultai”.
Thuật ngữ Hãn (Khan) là danh hiệu truyền thống dùng để chỉ “thủ lĩnh” hoặc “người thống trị”. Còn về cái tên “Thành Cát Tư” (Genghis) thì các sử gia vẫn chưa rõ nguồn gốc. Từ này có thể nghĩa là “đại dương” hoặc “chính nghĩa”. Trong ngữ cảnh của nhân vật này, từ này thường được dịch thành “đấng cai trị tối cao/toàn cầu”.
2. Tuổi thơ dữ dội
Từ tấm bé, Thành Cát đã bị buộc phải đấu tranh sinh tồn một cách khắc nghiệt trên thảo nguyên Mông Cổ. Cha của ông đã bị các đối thủ Tatar đầu độc khi ông lên 9. Bộ lạc của ông sau đó đã đuổi gia đình của ông đi và khiến cho mẹ ông phải một thân một mình nuôi 7 đứa con.
Lớn lên, Thành Cát Tư Hãn phải đi săn bắn và hái lượm để kiếm ăn. Đến tuổi vị thành niên, ông có lẽ còn phải sát hại cả một người anh em cùng mẹ khác cha trong một vụ tranh giành miếng ăn.
Thời thanh niên, các bộ tộc đối thủ thậm chí còn bắt cóc ông và người vợ trẻ của ông. Thành Cát sau đó phải sống như nô lệ trước khi thực hiện một cuộc đào tẩu táo bạo.
Bất chấp những khó khăn thuở đầu, ở độ tuổi trên 20, ông đã khẳng định được vị thế của mình là một chiến binh và thủ lĩnh đáng gờm.
Sau khi tập hợp được một đội quân những người ủng hộ, Thành Cát bắt đầu xây dựng liên minh với người đứng đầu các bộ lạc quan trọng. Vào năm 1206 ông đã củng cố thành công các liên minh thảo nguyên dưới ngọn cờ Thành Cát. Giờ đây ông bắt đầu chuyển hướng chú ý sang chinh phục ở bên ngoài.
3. Không có ghi chép rõ ràng nào về ngoại hình của Thành Cát
Dù Thành Cát Tư Hãn là một nhân vật rất có ảnh hưởng, người ta chỉ biết rất ít về cuộc sống riêng tư của ông và thậm chí cả ngoại hình của ông nữa.
Hiện không còn bức chân dung hay điêu khắc nào về Thành Cát Tư Hãn từ thời đó tồn tại đến bây giờ. Những thông tin ít ỏi mà giới sử gia có được về ông thì lại thường mâu thuẫn với nhau hoặc không đáng tin cậy.
Đa số các ghi chép đều mô tả ông là một người cao, khỏe với mái tóc dài và bộ ria rậm.
Có lẽ mô tả gây ngạc nhiên nhất là của sử gia Ba Tư thế kỷ 14 Rashid al-Din. Theo người này, Thành Cát Tư Hãn có tóc đỏ và mắt xanh. Tuy nhiên ghi chép của al-Din có thể không đáng tin cậy lắm vì ông chưa bao giờ gặp trực tiếp Đại Hãn. Tuy nhiên những đặc điểm này không phải là chưa từng được nói tới trong cộng đồng Mông Cổ.
4. Một số vị tướng thân tín nhất của ông lại là cựu thù
Đại Hãn rất giỏi phát hiện người tài. Ông thường thăng chức cho các chỉ huy quân sự dựa trên trình độ và kinh nghiệm của họ hơn là dựa trên đẳng cấp, gốc gác hay việc họ trung thành với ai trước đây.
Một trường hợp kinh điển về niềm tin mà Thành Cát Tư Hãn đặt vào tài năng thực sự của con người là sự việc diễn ra vào năm 1201 trong một trận đánh với bộ tộc Taijut đối địch. Trong trận đó, Thành Cát suýt chết sau khi ngựa chiến của ông bị bắn hạ từ phía sau bằng một mũi tên. Khi ông nói chuyện với các tù binh Taijut và yêu cầu họ nói người nào đã bắn tên, một tù binh can đảm đứng dậy và thừa nhận mình là cung thủ. Ấn tượng mạnh trước sự gan dạ của cung thủ này, Thành Cát đã bổ nhiệm anh ta làm chỉ huy trong quân đội của mình. Sau này Thành Cát đặt cho anh ta biệt danh “Triết Biệt (Jebe)” (có nghĩa là mũi tên) nhằm kỷ niệm cuộc gặp đầu tiên giữa 2 người trên chiến trường.
Cùng với viên tướng nổi tiếng Tốc Bất Đài, Triết Biệt sau này trở thành một trong các tư lệnh trận mạc vĩ đại nhất của người Mông Cổ trong quá trình chinh phục châu Á và châu Âu.
5. Trị tận gốc
Thành Cát Tư Hãn thường trao cho các vương quốc khác một cơ hội quy phục đế chế Mông Cổ một cách hòa bình. Song ông cũng không ngần ngại dùng lưỡi gươm để trấn áp không thương tiếc bất cứ lực lượng nào dám chống lại ông.
Một trong các chiến dịch trả thù nổi tiếng nhất của ông là vào năm 1219, sau khi vua của Đế chế Khwarezmid phá vỡ một hiệp ước với người Mông Cổ.
Ban đầu, Thành Cát Tư Hãn đã đề xuất với vị vua của Khwarezmid một thỏa thuận thương mại có giá trị cao liên quan tới việc trao đổi hàng hóa dọc theo Con đường Tơ lụa. Nhưng khi các sứ giả của ông bị sát hại, vị Đại Hãn Mông Cổ đã nổi cơn thịnh nộ và đáp trả bằng toàn bộ sức mạnh của đội quân Mông Cổ. Cuộc chiến sau đó đã khiến hàng triệu người bỏ mạng, và vương quốc Khwarezmid (ở Ba Tư) đã bị phá hủy hoàn toàn.
Thế nhưng Đại Hãn không chịu dừng lại ở đó. Nối tiếp chiến thắng trên, Thành Cát Tư Hãn quay trở lại phía Đông và phát động chiến tranh nhằm vào người Đảng Hạng của quốc gia Tây Hạ - những người không tuân lệnh Thành Cát Tư Hãn yêu cầu cấp quân cho ông xâm lược Khwarizm.
Sau khi đánh bại các lực lượng Đảng Hạng và tàn phá kinh đô của họ, Đại Hãn hạ lệnh hành quyết toàn bộ hoàng gia Đảng Hạng để trừng phạt việc họ dám thách thức ông.
6. Chịu trách nhiệm về cái chết của 40 triệu người
Mặc dù không thể biết chắc chắn có bao nhiêu người đã thiệt mạng trong thời kỳ chinh phục của Mông Cổ, nhiều sử gia ước tính con số này vào khoảng 40 triệu người.
Con số thống kê từ thời Trung Cổ cho thấy dân số Trung Quốc sụt giảm hàng chục triệu người trong thời kỳ Đại Hãn còn sống. Các học giả ước tính ông ta có thể đã giết chết một lượng người bằng 3/4 dân số Iran ngày nay trong cuộc chiến với đế chế Khwarezmid. Theo nhiều số liệu, các cuộc tấn công của người Mông Cổ có thể đã làm giảm dân số toàn thế giới (thời đó) đi 11%.
7. Khoan dung với các tôn giáo khác nhau
Không như nhiều vị xây dựng nên các đế chế khác, Thành Cát Tư Hãn chấp nhận sự đa dạng trong các lãnh thổ mà ông mới chinh phục. Ông đã thông qua các đạo luật thừa nhận tự do tôn giáo cho tất cả mọi người và thậm chí còn miễn thuế cho những nơi thờ cúng.
Sự khoan dung này có một ý nghĩa chính trị - Đại Hãn biết rằng các chủ thể của đế chế nếu hạnh phúc thì họ sẽ ít khi nổi loạn. Nhưng vấn đề không chỉ vậy. Bản thân người Mông Cổ có một thái độ tự do đặc biệt đối với tôn giáo.
Thành Cát Tư Hãn và nhiều người Mông Cổ khác tôn thờ thần trời, gió và núi. Bản thân Thành Cát Tư Hãn rất tin vào yếu tố tâm linh. Người ta kể rằng ông đã cầu nguyện trong lều của mình trong nhiều ngày trước các chiến dịch quan trọng. Ông thường gặp gỡ với các lãnh đạo tôn giáo khác nhau để trao đổi chi tiết về niềm tin của họ.
Khi về già, Thành Cát Tư Hãn thậm chí còn cho mời thủ lĩnh đạo Lão là Qiu Chuji đến trại của mình. Hai bên sau đó đàm đạo rất lâu về sự bất tử và triết lý.
8. Tạo ra một trong các hệ thống thư tín quốc tế đầu tiên
Cùng với cung tên và ngựa, vũ khí mạnh nhất của Mông Cổ có thể là mạng lưới liên lạc rộng khắp của họ.
Một trong các sắc lệnh sớm nhất của Đại Hãn là về việc hình thành một dịch vụ đưa tin bằng ngựa, có tên gọi là “Yam”.
Dịch vụ này bao gồm một chuỗi các chú ngựa và trạm bưu chính được tổ chức chặt chẽ trải rộng trong đế chế Mông Cổ. Những người cưỡi ngựa này có thể đi xa tới 322km mỗi ngày.
Hệ thống nói trên cho phép chuyển hàng hóa và thông tin với tốc độ nhanh chưa từng có tiền lệ. Ngoài ra hệ thống đó còn đóng vai trò tai mắt cho Đại Hãn.
Nhờ có Yam, Thành Cát Tư Hãn có thể dễ dàng theo kịp với các diễn biến quân sự - chính trị và duy trì liên lạc với mạng lưới gián điệp và do thám. Yam cũng có vai trò bảo vệ các quan chức và nhà buôn nước ngoài trong quá trình đi lại.
9. Không ai biết ông chết như thế nào và được chôn ở đâu
Trong tất cả những bí ẩn quanh cuộc đời của Thành Cát Tư Hãn, có lẽ mối quan tâm lớn nhất là ông này đã chết ra sao.
Chính sử nói rằng ông chết vào năm 1227 do các vết thương sau một cú ngã ngựa. Các nguồn khác thì đưa ra một danh sách các nguyên nhân từ sốt rét cho đến vết thương vì mũi tên bắn vào đầu gối.
Dù Thành Cát Tư Hãn chết như thế nào thì ông cũng đã hết sức công phu trong việc giữ bí mật nơi an nghỉ của mình.
Theo truyền thuyết, đám rước tang lễ của ông đã thảm sát tất cả những ai họ gặp trên đường rồi phi ngựa liên tục qua mộ của ông để xóa các dấu vết. Lăng mộ của ông nhiều khả năng nằm ở trên hoặc xung quanh một ngọn núi Mông Cổ có tên gọi là Burkhan Khaldun. Nhưng cho đến ngày nay người ta vẫn không biết đích xác vị trí mộ của Thành Cát Tư Hãn.
 Theo VOV

Author Name

Hải Quân Việt Nam

Hải Quân Việt Nam

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Hình ảnh chủ đề của sbayram. Được tạo bởi Blogger.